Tiến sĩ Winfried Scharlau là thông tín viên lâu năm của các đài phát thanh và truyền hình Tây Đức tại Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung. Ông bị thương hai lần, là một trong những nhà báo cuối cùng rời Sài Gòn trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975, nhân chứng của buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Dương Văn Minh. Quyển sách này là hồi ức và đánh giá của ông về cuộc Chiến tranh Việt Nam, về vai trò của báo chí trong cuộc chiến, về những diễn tiến chính trị ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong thời gian của cuộc chiến và những năm sau đó.
Đông Nam Á đã thay đổi rất nhiều trong hai mươi năm vừa qua. Tôi đã trải qua những sự kiện quan trọng, bi thảm, khi còn là thông tín viên truyền hình cho [đài truyền hình nhà nước Đức] ARD.
Quyển sách này là hồi tưởng cá nhân, đồng thời cũng là phóng sự và phản ánh lịch sử. Chiến tranh và cách mạng chiếm một phần lớn trong đây. Việt Nam đã chiến đấu giành được độc lập trong một cuộc chiến tranh ba mươi năm chống Pháp và Mỹ. Hàng triệu người đã bị giết chết trong lúc đó. Các thiệt hại về vật chất vẫn còn đè nặng lên đất nước này cho tới ngày nay. Lào đã bị lôi kéo vào cuộc xung đột bởi con Đường mòn Hồ Chí Minh. Campuchia đã gây sốc giới công khai bằng một trong những cuộc cách mạng tàn bạo nhất của lịch sử loài người mà ý nghĩa của nó hầu như không thể hiểu được. Chỉ độc nhất Thái Lan là giữ được hòa bình, biết cách làm giảm thiểu những cuộc đảo chính và nổi loạn trong nội bộ qua chính sách khôn khéo và biến chúng thành việc tốt.
Hồi tưởng cá nhân có một góc nhìn riêng, cái vẫn được giữ xuyên suốt qua câu chuyện. Nó sẽ làm cho người ta hiểu được rằng tại sao tôi không thể ngưng suy nghĩ về sự việc đã diễn ra ở mặt ngoài, đánh giá các tài liệu có thể có được,
nghiên cứu diễn giải của các tác giả khác, làm việc như một sử gia, người cố gắng tạo ra một bức ảnh tìm tới một cái nhìn toàn cảnh, vượt qua những trải nghiệm cá nhân.
Góc nhìn luôn thay đổi có nhiệm vụ giúp người đọc hiểu rõ được độ phức tạp của các sự kiện. Tôi muốn viết cho người đọc, không chỉ cho các chuyên gia hàn lâm. Tôi muốn cung cấp thông tin, càng dễ hiểu càng tốt.
Trong các câu lạc bộ báo chí Đông Nam Á, người ta biết câu chuyện của một người tới thăm Hongkong, người đã không muốn rời chiếc ống kính viễn vọng trên đồi Lạc Mã Châu ở Tân Giới mà với nó người ta có thể nhìn qua tấm màn tre vào Trung Quốc cộng sản. Hàng người đứng chờ ở phía sau ông càng lúc càng dài ra và càng sốt ruột. Sau nửa giờ, một người cảnh sát can thiệp và hỏi con người gây ra lộn xộn đang nhìn chăm chú qua biên giới đó: “Tại sao ông không nhường ống nhòm cho người khác?”
“Tôi viết một quyển sách về Trung Quốc”, người được hỏi đáp trả.
“Trong trường hợp này”, viên cảnh sát thừa nhận, “thì ông cần phải mở rộng sự quan sát của mình thêm một chút, để đừng giống như các tác giả khác, đã viết về Trung Quốc mà hoàn toàn không cần nhìn thấy hiện thực.”
Khi các marines đầu tiên, lính cổ da Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng năm 1965, cuộc Chiến tranh Việt Nam đạt tới một giá trị tin tức yêu cầu các giới truyền thông Đức phải hoạt động mạnh hơn nữa. Đài ARD muốn được cung cấp thông tin từ một thông tín viên đóng ở tại chỗ, ở Sài Gòn. Các phóng sự từ studio New Delhi đã không còn đủ nữa. Trong tháng Hai 1967, tôi sang Nam Việt Nam. Một thế giới mới, xa lạ đã bắt giữ lấy tôi và kể từ lúc đó không còn buông thả tôi ra nữa.
Chiến tranh đã đóng một vai trò quan trọng trong lần gặp gỡ đầu tiên với châu Á. Nó đã mang tôi, thật ra cũng như tất cả các phóng viên chiến tranh khác, vào