Định Luật Y Học |
|
| Tác giả | Siddhartha Mukherjee |
| Bộ sách | |
| Thể loại | Y học - Sức Khỏe |
| Tình trạng | Hoàn Thành |
| Định dạng | eBook mobi pdf epub azw3 |
| Lượt xem | 690 |
| Từ khóa | eBook mobi pdf epub azw3 full Siddhartha Mukherjee Y Học Tham Khảo Khoa Học Tự Nhiên |
| Nguồn | |
Cuốn sách này viết về những điều đã biết, về sự bất toàn, tính bất ổn và tương lai của y học.
Hơn một thập kỷ trước, khi Siddhartha Mukherjee vẫn còn là một bác sĩ nội trú trẻ tuổi, kiệt sức và cô lập, anh đã tìm thấy cuốn sách vĩnh viễn thay đổi cuộc đời mình. Một cuốn sách thôi thúc anh đi tìm chìa khóa cho câu hỏi cơ bản và bức thiết: Liệu y học có phải một ngành khoa học tự nhiên?
Một ngành khoa học tự nhiên đòi hỏi những định luật. Liệu y học có đáp ứng được yêu cầu này chăng?
Và Bác sĩ Siddhartha Mukherjee đã dành cả sự nghiệp của mình để tìm kiếm câu trả lời – “Định luật Y học”. Trong luận thuyết quan trọng này, ông nghiên cứu những trường hợp khó khăn nhất trong sự nghiệp của mình đã dẫn ông đến nhận thức về 3 nguyên tắc thống trị y học.
Nền giáo dục y khoa đã dạy Siddhartha Mukherjee rất nhiều dữ liệu khoa học, nhưng lại dạy rất ít về những khoảng trống nằm giữa những dữ liệu đó. Cuốn sách này là một cách để ông khám phá những công cụ có thể giúp tôi hòa hợp hai phạm vi tri thức.
Y học là một nhành khoa học với những định luật. Tất nhiên, những định luật này có thể sẽ không giống những định luật trong vật lý hay hóa học. Nếu là một ngành khoa học, y học sẽ là một ngành khoa học uyển chuyển hơn.
Dưới ngòi bút đậm chất hung biện và đầy say mê, “Định luật Y học” không chỉ dành cho những nhà nghiên cứu chuyên sâu mà còn cho tất cả những ai đang tìm kiếm cách thức để có một cuộc sống khỏe mạnh tràn đầy.
Sau cùng, cuốn sách này là nền móng xây dựng con đường mới tìm đến sự thấu hiểu về y học, hiện tại và cả tương lai.
Tác giả: Siddhartha Mukherjee
Thể loại: Y học, khoa học tự nhiên, triết lý y khoa, phi hư cấu
Định Luật Y Học PDF EPUB MOBI AZW3 full miễn phí – tác phẩm quan trọng của Siddhartha Mukherjee (tác giả Pulitzer với "Hoàng Đế Của Mọi Bệnh Tật").
Từ trải nghiệm bác sĩ nội trú kiệt sức, Mukherjee đặt câu hỏi: Liệu y học có phải là một ngành khoa học tự nhiên với những định luật riêng? Qua hàng thập kỷ nghiên cứu và lâm sàng, ông phát hiện 3 nguyên tắc thống trị y học – uyển chuyển hơn vật lý hay hóa học. Sách khám phá khoảng trống giữa dữ liệu khoa học, sự bất toàn và tương lai y học, kết hợp hung biện sắc sảo và say mê sâu sắc. Không chỉ dành cho bác sĩ, nhà nghiên cứu, mà còn cho bất kỳ ai muốn hiểu bản chất y học và sống khỏe mạnh tràn đầy. Tác phẩm là nền móng cho cách nhìn mới về y học hiện đại và tương lai.
Tải ngay ebook Định Luật Y Học full chất lượng cao hoàn toàn miễn phí tại DTV eBook – y học khoa học tự nhiên, triết lý sâu sắc, đọc là mở mang!
Cuốn sách này viết về những điều đã biết, về sự bất toàn, tính bất ổn và tương lai của y học.
Hơn một thập kỷ trước, khi Siddhartha Mukherjee vẫn còn là một bác sĩ nội trú trẻ tuổi, kiệt sức và cô lập, anh đã tìm thấy cuốn sách vĩnh viễn thay đổi cuộc đời mình. Một cuốn sách thôi thúc anh đi tìm chìa khóa cho câu hỏi cơ bản và bức thiết: Liệu y học có phải một ngành khoa học tự nhiên?
Một ngành khoa học tự nhiên đòi hỏi những định luật. Liệu y học có đáp ứng được yêu cầu này chăng?
Và Bác sĩ Siddhartha Mukherjee đã dành cả sự nghiệp của mình để tìm kiếm câu trả lời – “Định luật Y học”. Trong luận thuyết quan trọng này, ông nghiên cứu những trường hợp khó khăn nhất trong sự nghiệp của mình đã dẫn ông đến nhận thức về 3 nguyên tắc thống trị y học.
Nền giáo dục y khoa đã dạy Siddhartha Mukherjee rất nhiều dữ liệu khoa học, nhưng lại dạy rất ít về những khoảng trống nằm giữa những dữ liệu đó. Cuốn sách này là một cách để ông khám phá những công cụ có thể giúp tôi hòa hợp hai phạm vi tri thức.
Y học là một nhành khoa học với những định luật. Tất nhiên, những định luật này có thể sẽ không giống những định luật trong vật lý hay hóa học. Nếu là một ngành khoa học, y học sẽ là một ngành khoa học uyển chuyển hơn.
Dưới ngòi bút đậm chất hung biện và đầy say mê, “Định luật Y học” không chỉ dành cho những nhà nghiên cứu chuyên sâu mà còn cho tất cả những ai đang tìm kiếm cách thức để có một cuộc sống khỏe mạnh tràn đầy.
Sau cùng, cuốn sách này là nền móng xây dựng con đường mới tìm đến sự thấu hiểu về y học, hiện tại và cả tương lai.
Nhiều năm về trước, khi còn là sinh viên y khoa tại Boston, tôi đã được kiến tập một vị bác sĩ phẫu thuật lão luyện tiến hành mổ một bệnh nhân nữ. Vị bác sĩ phẫu thuật này, bác sĩ Castle, là một huyền thoại đối với các bác sĩ nội trú chuyên khoa phẫu thuật. Với chiều cao 1 mét 8, dáng vẻ nghiêm trang bệ vệ khiến đám thực tập sinh lúc nào cũng nhũn như con chi chi, ông luôn nói bằng giọng mũi chậm rãi, lè nhè đặc sệt giọng miền Nam. Vóc người của ông có vẻ gì đó căng tràn ‒ giống một sợi dây thép hơn là một cái dầm sắt ‒ tựa như cơ thể ông được dựng lên để minh họa cho sự khác biệt giữa sức bền và sức mạnh. Hằng ngày, ông bắt đầu ca làm từ năm giờ sáng, sau đó xuống phòng mổ dưới tầng hầm vào lúc sáu giờ mười lăm và làm việc cả ngày ở đó cho đến chập tối. Ông dành các ngày cuối tuần để giong buồm gần Scituate trên chiếc thuyền nhỏ một buồm mà ông đặt biệt danh là Lưỡi dao.
Các bác sĩ nội trú tôn sùng Castle không chỉ vì kỹ thuật điêu luyện mà còn bởi những bài học quý giá học được từ ông. Các bác sĩ phẫu thuật khác có thể là những người chỉ dạy ân cần và nhẹ nhàng hơn, nhưng cốt lõi trong phương pháp giảng dạy của Castle là sự tự tin cao độ. Ông thuần thục các kỹ thuật mổ ‒ tay nghề quá lão luyện ‒ đến mức ông cho phép sinh viên thực hiện gần như toàn bộ ca mổ, bởi ông biết rằng mình có thể nhanh chóng can thiệp hoặc sửa chữa những sai lầm của họ. Trong một ca mổ, nếu bác sĩ nội trú cắt trúng động mạch, một bác sĩ phẫu thuật yếu bóng vía hơn có lẽ sẽ hoảng hốt can thiệp để bịt kín mạch máu đang bị xuất huyết. Còn Castle sẽ lùi lại, khoanh tay đứng thăm dò bác sĩ nội trú, và chờ cho người này phản ứng. Nếu họ xử lý quá chậm, Castle sẽ ra tay với tốc độ và sự chuẩn xác của loài chim ưng để ngăn chặn tình trạng xuất huyết, sau đó tự mình khâu vết thương trong khi vừa lắc đầu vừa lầm bầm, “Quá thiếu sót, quá muộn màng”. Tôi chưa bao giờ chứng kiến các bác sĩ nội trú năm cuối trong phòng phẫu thuật, những người trưởng thành với sáu hoặc tám năm kinh nghiệm mổ, lại có thể xuống tinh thần đến vậy chỉ vì một cái lắc đầu.
Bệnh nhân được phẫu thuật sáng hôm đó là một phụ nữ trong độ tuổi năm mươi, có một khối u kích thước vừa phải ở ruột dưới. Ca mổ được sắp xếp tiến hành vào lúc 6 giờ 15 phút như thường lệ, nhưng bác sĩ nội trú phụ trách bỗng nhiên báo ốm. Một bác sĩ nội trú khác trong khoa khẩn trương được liên lạc, anh ta nhanh chóng đến phòng mổ, đeo găng tay. Castle bước đến nhìn những tấm phim chụp cắt lớp treo trên hộp đèn huỳnh quang, lẳng lặng xem xét một hồi, rồi khẽ gật đầu, ra hiệu bắt đầu tiến hành mổ. Có một khoảnh khắc trang nghiêm khi ông chìa bàn tay phải ra và y tá trao cho ông con dao mổ.
Khoảng nửa tiếng sau, ca mổ vẫn được kiểm soát hoàn hảo. Một số bác sĩ phẫu thuật thích bật nhạc trong phòng phẫu thuật ‒ nhạc rock and roll và Brahms là những lựa chọn phổ biến ‒ nhưng Castle thích yên lặng hơn. Anh chàng bác sĩ nội trú thao tác nhanh và không mắc sai sót. Castle chỉ nhắc nhở anh ta phải tăng kích thước vết rạch để quan sát được hoàn toàn bên trong ổ bụng. “Nếu không nhận ra đó là gì thì không thể cắt bỏ”, ông nói.
Nhưng rồi ca mổ đột nhiên xảy ra sự cố. Khi bác sĩ nội trú chuẩn bị cắt khối u ra khỏi cơ thể, thì các mạch máu bao quanh khối u bắt đầu rỉ máu. Mới đầu, máu chỉ chảy nhỏ giọt, và rồi một vài tia máu phun vọt ra. Chỉ trong vài phút, một lượng máu tương đương một thìa cà phê đã tràn khắp vị trí mổ làm hạn chế khả năng quan sát. Các mô được cẩn thận vạch ra giờ đây chìm trong máu đỏ thẫm. Castle đứng bên cạnh, khoanh tay quan sát.
Vẻ hoảng loạn hiện rõ trên gương mặt anh chàng bác sĩ nội trú. Trán đẫm mồ hôi, chẳng khác gì bể máu trước mắt anh ta. “Bệnh nhân có tiền sử rối loạn chảy máu không?”, anh ta hỏi, càng lúc càng tuyệt vọng. “Bà ấy có uống thuốc làm loãng máu trước phẫu thuật không?” Thông thường, đáng ra anh ta đã phải nghiên cứu hồ sơ bệnh án vào đêm trước khi phẫu thuật và biết hết các câu trả lời ‒ nhưng anh ta bị chỉ định khẩn cấp cho ca mổ này.
“Nếu anh không biết thì sao?” Castle nói. “Nếu tôi nói không biết thì anh tính thế nào?” Tay ông lúc này đã đưa vào bụng người phụ nữ và bịt chặt mạch máu lại. Bệnh nhân không còn nguy kịch, nhưng anh chàng bác sĩ nội trú nom hoàn toàn suy sụp.
Nhưng ngay lúc đó, giống như có một tia sét tri thức nhỏ xíu, tựa một cung lửa điện, xẹt qua giữa Castle và anh chàng bác sĩ nội trú. Anh ta thay đổi cách làm của mình. Anh ta bước qua tấm màn che phẫu thuật phía trên đầu người bệnh để hội ý với bác sĩ gây mê. Sau khi xác nhận rằng bệnh nhân được gây mê đủ liều và trong trạng thái an toàn, anh ta quay lại bàn mổ và thấm sạch những vết máu còn đọng lại bằng mấy miếng gạc. Anh ta bắt đầu tiến hành cắt bỏ xung quanh các mạch máu khi có thể, lần theo đường chạy của các mạch máu bằng đầu kẹp Babcock hoặc dùng ngón tay tách rời chúng một cách đầy khéo léo và tinh tế, giống như đang mân mê dây của một chiếc đàn Stradivarius. Mỗi khi tiệm cận một mạch máu, anh ta xoay ngang lưỡi dao mổ và dùng tay xem xét tỉ mỉ, hoặc dịch chuyển ra xa, không động vào mạch máu. Việc này mất nhiều thời gian hơn, nhưng bệnh nhân không còn bị chảy máu nữa. Một tiếng sau, Castle gật đầu đồng ý, và anh chàng bác sĩ nội trú khâu vết mổ lại. Khối u đã được lấy ra.
Chúng tôi bước ra khỏi phòng phẫu thuật trong yên lặng. “Có lẽ lúc này anh sẽ muốn kiểm tra hồ sơ bệnh án của bệnh nhân”, Castle nói. Có một vẻ dịu dàng trong giọng mũi đặc trưng của ông. “Đưa ra quyết định đúng đắn khi có thông tin đầy đủ là điều dễ dàng. Ngành y đòi hỏi anh phải đưa ra quyết định đúng đắn chỉ với những thông tin không hoàn chỉnh.”
…
Cuốn sách này viết về những điều đã biết, sự bất toàn, tính bất ổn và tương lai của y học. Khi tôi bắt đầu theo học trường y vào mùa thu năm 1995, chương trình giảng dạy dường như hoàn toàn phù hợp với những yêu cầu trong ngành: Tôi được học sinh vật học tế bào, giải phẫu học, sinh lý học, bệnh lý học và dược lý học. Sau bốn năm đèn sách, tôi có thể chỉ ra năm nhánh dây thần kinh mặt, phản ứng hóa học chuyển hóa prô-tê-in trong tế bào, cùng những bộ phận trong cơ thể con người khiến tôi ám ảnh lúc nào không hay biết. Tôi cảm thấy mình đã sẵn sàng để bắt đầu hành nghề.
Thế nhưng, càng tiến lên trong quá trình đào tạo ‒ trở thành thực tập sinh, sau đó là bác sĩ nội trú, nghiên cứu sinh về ung thư học, và rồi là một bác sĩ giảng dạy chuyên điều trị bệnh nhân ung thư ‒ tôi càng nhận ra rằng kiến thức của mình đang thiếu mất một mảnh ghép quan trọng. Đúng là tôi cần biết các nguyên lý về sinh vật học tế bào để hiểu nguyên do tại sao liệu pháp truyền tiểu cầu vào người bệnh nhân hầu hết có tác dụng trong hai tuần (tiểu cầu chỉ sống được hai tuần trong cơ thể). Giải phẫu học giúp tôi hiểu ra tại sao một người hồi tỉnh sau khi được phẫu thuật và bị tê liệt toàn bộ thân dưới (một động mạch bất thường tiếp tế cho dây cột sống dưới bị một cục huyết khối gây nghẽn mạch, khiến dây cột sống, chứ không phải là não, “đột quỵ”…) Một phương trình trong dược lý học nhắc nhở tôi tại sao một loại thuốc kháng sinh được chỉ định uống bốn lần một ngày trong khi một loại khác có thành phần phân tử tương tự lại chỉ được chỉ định uống một lần mỗi ngày (hai hóa chất có tốc độ phân rã khác nhau trong cơ thể).
Nhưng tôi sớm nhận ra rằng tất cả những thông tin này đều có thể đọc được trong sách hoặc tìm thấy trên mạng. Điều đang thiếu mất là làm gì với những thông tin đó ‒ nhất là trong trường hợp dữ liệu thiếu hoàn chỉnh hoặc không đáng tin cậy. Có hợp lý không nếu tiến hành ghép tủy đối với một phụ nữ bốn mươi tuổi mắc bệnh bạch cầu cấp tính trong khi sức khỏe của cô ta đang suy giảm nhanh chóng? Thoạt đầu, chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong sách tài liệu và những nghiên cứu y khoa từng được công bố. Theo lẽ thường, bệnh nhân đang suy giảm sức khỏe không nên tiến hành cấy ghép. Thế nhưng nếu câu trả lời đó không đúng với người phụ nữ này, với hồ sơ bệnh án này, với riêng trường hợp này thì sao? Nếu chính bệnh bạch cầu là tác nhân khiến sức khỏe giảm sút nhanh chóng thì sao? Nếu cô ta hỏi về tiên lượng bệnh, tôi rõ ràng có thể đưa ra tỷ lệ sống sót rút ra từ các cuộc thử nghiệm ‒ nhưng nếu cô ta là một trường hợp ngoại lệ thì sao?
Nền giáo dục y khoa đã dạy tôi rất nhiều dữ liệu khoa học, nhưng lại dạy rất ít về những khoảng trống nằm giữa những dữ liệu đó. Tôi có thể viết một luận văn về chức năng sinh lý của thị lực. Nhưng tôi không thể nào nhìn thấu được lời nói dối của một bệnh nhân mắc bệnh nặng về phổi và cần được điều trị thở oxy tại nhà. Xấu hổ vì là người vô gia cư, người này đã cung cấp địa chỉ giả. (Sáng hôm sau, tôi nhận được cuộc gọi giận dữ từ công ty chuyển phát bình oxy vì địa chỉ đó là của một cửa hàng bán phụ kiện ôtô tại Boston).
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng y học lại là một thế giới hỗn độn và mơ hồ đến như vậy. Tôi tự hỏi liệu có phải các bác sĩ đã đặt ra những cái tên đầy miễn cưỡng cho các bộ phận cơ thể, bệnh lý và phản ứng hóa học ‒ dây hãm, viêm tai, sự thủy phân glucoza ‒ là để bảo vệ họ trước phạm vi tri thức rộng lớn không thể nhận thức được hay không. Hàng núi thông tin đã che khuất đi một vấn đề sâu sắc và quan trọng hơn: Sự hòa hợp giữa tri thức (cái chắc chắn, cố định, hoàn chỉnh, cụ thể) với kinh nghiệm thực tế trong ngành y (cái thiếu chắc chắn, thất thường, không hoàn chỉnh, trừu tượng).
Trước hết, cuốn sách này là một cách để tôi khám phá những công cụ có thể giúp tôi hòa hợp hai phạm vi tri thức trên. “Định luật y học”, như cách tôi mô tả trong cuốn sách này, thực sự là những định luật của sự không chắc chắn, tính mơ hồ và tình trạng chưa hoàn chỉnh. Chúng cũng có thể được áp dụng tương ứng cho tất cả những hệ thống kiến thức chịu tác động của các yếu tố này. Chúng là những định luật của sự bất toàn.
Những câu chuyện trong cuốn sách này đều có thật, nhưng tôi đã thay đổi tên tuổi và danh tính các nhân vật cũng như một số bối cảnh và phép chẩn đoán. Những đoạn hội thoại không được ghi chép lại đúng nguyên văn mà là được diễn giải lại theo trí nhớ của tôi. Một số các tình huống, các xét nghiệm và thử nghiệm cũng được thay đổi để tránh tiết lộ thông tin của các bệnh nhân và bác sĩ.
Trong Harry Potter, một chuyên luận triết học dưới vỏ bọc một cuốn truyện dành cho trẻ em, một giáo viên pháp thuật đã hỏi Hermione Granger, một phù thủy tập sự trẻ tuổi, rằng có phải cô bé mong muốn được học Luật Pháp thuật là để theo đuổi sự nghiệp pháp thuật hay không. “Không”, Granger đáp. Cô bé mong mỏi được học các luật này là để có thể làm điều gì đó tốt đẹp trên thế giới này. Đối với Granger, luật pháp thuật không tồn tại để duy trì pháp thuật. Chúng là công cụ để hiểu thế giới.
…
Mùa đông năm 2000, năm nội trú đầu tiên, tôi sống trong một căn hộ một phòng đối diện công viên, cách ga xe lửa quảng trường Harvard vài bước chân.
Với tôi, sống chỉ là một mỹ từ. Cứ ba đêm tôi lại trực ở bệnh viện một lần ‒ thức trắng đêm, nhận bệnh nhân vào các khoa, viết phiếu, làm thủ tục, hoặc chăm sóc các bệnh nhân nặng tại các đơn vị hồi sức và chăm sóc tích cực. Ngày hôm sau ‒ ngày ra trực ‒ tôi thường nằm bơ phờ trên tấm nệm cứng kiểu Nhật của mình, cố gắng ngủ bù. Chúng tôi gọi ngày thứ ba là “flex”, trong từ “flexible” (linh hoạt). Ca làm việc thường kết thúc vào lúc sáu giờ tối ‒ và bốn đến năm tiếng đầu óc tỉnh táo hăng hái còn lại là một trong những tài sản quý giá và riêng tư nhất của tôi. Tôi chạy ba dặm quanh sông Charles lạnh giá như thể cuộc đời tôi phụ thuộc vào chuyện này, pha cà phê bằng chiếc máy Keurig kêu xèo xèo, và ngồi nhìn lơ đãng đống tuyết ngoài cửa sổ, nghiền ngẫm những ca bệnh mà tôi gặp trong tuần. Sau sáu tháng đầu tiên, tôi đã chứng kiến hơn chục ca tử vong, trong số đó có một chàng trai trẻ, trạc tuổi tôi, chết vì suy cơ quan trong khi đang chờ được ghép tim.
…
Tôi không nói chuyện với ai, hoặc ít nhất là tôi không nhớ là mình có nói chuyện với ai (tôi chạy xuyên công viên vào buổi đêm, và lướt qua các bạn bè vào ban ngày). “Bệnh tật nhắc nhở cậu rằng sự ngẫu hứng cũng là một quyền của con người”, một bệnh nhân từng nói với tôi như vậy. Một điều đáng sợ của bệnh viện là tất cả mọi thứ đều diễn ra đúng giờ: Thuốc uống đúng giờ, khăn trải giường được thay đúng lịch, bác sĩ thăm khám vào những giờ cố định, kể cả nước tiểu cũng được thu vào túi chia vạch theo hẹn giờ. Những người chăm sóc bệnh nhân cũng nếm trải ít nhiều sự loại trừ tính ngẫu hứng này. Nhìn lại, tôi nhận thấy rằng mình đã sống một năm, có khi là hai năm, như một cỗ máy đồng hồ, quay vòng giữa những chuỗi sự kiện tuần hoàn. Ngày hôm nay chỉ là sự lặp lại của ngày hôm qua, một ngày như mọi ngày, vạn ngày không thấy đổi thay. Sau tháng đầu tiên, thậm chí “flex” (linh hoạt) cũng đã biến thành “reflex” (phản chiếu).
Đọc sách là cách duy nhất giúp tôi thoát khỏi sự đơn điệu buồn tẻ này. Trong một câu chuyện thời Trung cổ, một tù nhân bị tống vào tù với chỉ một cuốn sách, thế nhưng anh ta đã khám phá ra vũ trụ của hàng ngàn cuốn sách chỉ trong một cuốn sách duy nhất này. Theo tôi nhớ thì năm đó tôi cũng chỉ đọc duy nhất một cuốn sách ‒ một tuyển tập các bài tiểu luận có tựa đề là Ngành khoa học non trẻ nhất (The Youngest Science) ‒ nhưng tôi đã đọc như thể đó là một ngàn cuốn sách. Nó trở thành một trong những thứ ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời hành nghề y của tôi.
…
Ngành khoa học non trẻ nhất có tít phụ là Những ghi chép của một người quan sát ngành y (Notes of a Medicine Watcher). Đây là tác phẩm của bác sĩ, nhà khoa học, và đôi khi là một nhà thơ, Lewis Thomas. Cuốn sách mô tả lại khoảng thời gian thực tập nội trú của ông vào những năm 1930. Năm 1937, sau khi tốt nghiệp Trường Y khoa Harvard, Thomas bắt đầu thực tập tại bệnh viện Boston. Đó là một sự khởi đầu vô cùng gian nan. “Nếu nói rằng quãng thời gian đó đã cho tôi nhiều thứ thì cũng không hẳn, bởi vì chẳng có đồng lương nào hết”, Thomas viết. “Bệnh viện chỉ cấp cho chỗ ngủ, tiền cơm tháng, và giặt ủi một bộ đồng phục trắng; giờ làm việc là cả ngày, tất cả mọi ngày… Cũng chẳng có mấy nhu cầu tiền tiêu vặt, vì không có thời gian để tiêu xài. Dẫu sao, thực tập sinh vẫn luôn có một nguồn tiền đảm bảo: họ là nguồn hiến máu chính, 25 đôla cho 450ml máu, mỗi tháng hiến hai hoặc ba lần là tha hồ sung túc.”
Thời điểm Lewis Thomas gia nhập ngành y là một trong những giao thời quan trọng nhất trong lịch sử ngành này. Trên thực tế, chúng ta thường quên rằng phần lớn “y học hiện đại” mới xuất hiện gần đây: Trước những năm 1930, hầu như tất cả các biện pháp can thiệp y khoa đều chỉ tác động ít ỏi đến quá trình diễn biến của mọi căn bệnh (trái lại, ngành phẫu thuật có lẽ đã có tác động chuyển biến, xét đến thủ thuật cắt bỏ ruột thừa trong điều trị bệnh viêm ruột thừa, hoặc thủ thuật cắt cụt trong điều trị hoại tử). Hầu hết mọi sự can thiệp y khoa đều có thể phân làm ba loại ‒ trấn an, giảm đau, thông ống. Thuốc trấn an dĩ nhiên là loại thuốc phổ biến nhất ‒ “thuốc uống” có tác dụng nhờ vào phản ứng tâm lý và thần kinh của bệnh nhân (tiên đan dành cho người ốm yếu và già cả, hay thuốc bổ cho người trầm cảm).
Ngược lại, thuốc giảm đau thường đem lại hiệu quả xác thực; loại này gồm morphine, thuốc phiện, rượu cũng như các loại cồn thuốc, thuốc đắp và dầu thoa dùng để xoa dịu các triệu chứng như ngứa ngáy và đau mỏi. Loại cuối cùng ‒ mà tôi hay gọi nôm na là thuốc “thông ống” ‒ bao gồm thuốc nhuận tràng, thuốc xổ, chất gây nôn, chất lỏng dùng để thụt được sử dụng để tẩy sạch ruột và dạ dày, giảm chứng táo bón và đôi khi là nhằm thải độc. Những thuốc này đều có hiệu quả mặc dù người ta hạn chế sử dụng trong phần lớn các ca bệnh. (Trong các trường hợp lạm dụng thuốc, công cụ và liệu pháp thường bị đảo lộn. Tẩy ruột là một biện pháp can thiệp y khoa phổ biến vào thế kỷ XIX không chỉ bởi nó đặc biệt hiệu quả, mà còn vì đó là một trong số ít những công dụng có thể có được nhờ thuốc; tục ngữ có câu, “nếu bạn có một chiếc búa, thì mọi thứ đều giống như một chiếc đinh.”)
Số lượng ít ỏi cũng như sự thiếu hiệu quả của các biện pháp can thiệp y khoa đã tạo ra thứ mà Thomas coi là triết lý bao trùm trong y học: “Thuyết chữa bệnh hư vô”. Mặc dù tên gọi có hàm ý tiêu cực, nhưng thuyết chữa bệnh hư vô vẫn được coi là một trong những tiến bộ tích cực nhất của nền y học đầu thế kỷ XIX. Nhận thấy sự vô dụng và nguy hại của tuyệt đại đa số các biện pháp can thiệp y khoa của thế kỷ XIX, một thế hệ y bác sĩ mới đã quyết định hạn chế sử dụng các biện pháp đó hết mức có thể. Tuy nhiên, một số người có ảnh hưởng lớn như William Osler, thuộc Đại học John Hopkins, lại lựa chọn tập trung vào việc xác định, quan sát, phân loại và đặt tên cho các căn bệnh, hy vọng rằng điều đó có thể giúp thế hệ tương lai xác định các biện pháp can thiệp y khoa đáng tin cậy. Ví dụ, có vẻ như Osler đã cho bệnh nhân nhập viện vào các khoa tại Baltimore không với mục đích nào khác ngoài việc chứng kiến “diễn biến tự nhiên” của một chứng bệnh theo thời gian thực. Cám dỗ làm một điều gì đó, một cám dỗ hết sức nhân đạo, đã bị dập tắt một cách cố ý. (Thomas từng trả lời phỏng vấn rằng công việc của bác sĩ là “chẩn đoán, tiên lượng bệnh, hỗ trợ và chăm sóc ‒ tuyệt nhiên không can thiệp vào.”) Các học viên của Osler không can thiệp bằng những loại thuốc vô dụng, thay vì vậy, họ đo lường thể tích, hơi thở, cân nặng, chiều cao; họ theo dõi tim phổi, xem xét yếu tố giãn nở đồng tử ở mắt, độ phình lên xẹp xuống của bụng, sự xuất hiện và biến mất của các phản xạ thần kinh. Dường như lời thề Hyppocrates ‒ Điều đầu tiên, không được làm hại ‒ đã được chuyển hóa thành Điều đầu tiên, không được làm gì.
Thế nhưng, không làm gì cả có lẽ đã tạo ra một hiệu ứng thanh lọc sâu sắc. Vào những năm 1930, quá trình thanh lọc kỹ lưỡng quá khứ đã thay đổi triệt để ngành y. Bằng cách quan sát sự tiến hóa của các căn bệnh, và xây dựng các mô hình về cách các căn bệnh nảy sinh và diễn biến, các bác sĩ đã bắt đầu đặt nền móng cho y học hiện đại.
Họ đã nhận ra được những đặc điểm chính của bệnh suy tim ‒ cơ thể dần dồn ứ nước dẫn đến tràn dịch màng phổi, tiếng tim bất thường do hoạt động quá tải kéo dài, kéo theo đó có thể là những đợt ngưng tim dẫn đến tử vong. Họ cũng biết được rằng bệnh tiểu đường là do rối loạn chuyển hóa chất đường ‒ cơ thể không có khả năng vận chuyển đường từ máu tới các mô; rằng điều này khiến lượng đường trong máu của các bệnh nhân đái tháo đường luôn ở mức cao, trong khi các mô lại thiếu hụt dưỡng chất, giống như những thủy thủ lênh đênh trên biển cả, nhưng không được uống một ngụm nước nào. Rằng nhiễm khuẩn cúm thường gây ra bệnh viêm phổi do phế cầu; những bệnh nhân sau khi khỏi cảm cúm có thể đột nhiên sốt tái phát, ho dai dẳng, ho ra máu tươi; qua ống nghe, thùy phổi có thể phát ra tiếng rên nổ âm ỉ đặc trưng của hiện tượng nhu mô phổi đông đặc ‒ “giống tiếng người bước trên lá khô”, một giáo sư của tôi đã diễn tả như vậy. Rằng bệnh viêm phổi có thể diễn biến theo hai hướng hoàn toàn khác nhau: Vi khuẩn phá hủy hệ thống phòng thủ cơ thể của bệnh nhân, gây ra nhiễm trùng, suy cơ quan và nhanh chóng khiến bệnh nhân tử vong; hoặc sau mười ngày viêm nhiễm, cơ thể tăng cường hệ miễn dịch, bệnh nhân hạ sốt đột ngột và vi khuẩn trong máu bị tiêu diệt. Sinh lý bệnh học đã được hình thành như vậy, quan sát nối tiếp quan sát, và đó có thể là cơ sở để xây dựng nên nền y học hiện đại.
Đối với Thomas, đặc điểm đáng kinh ngạc của y học trong những năm 1940 là khả năng vận dụng những thông tin này để đưa ra những biện pháp can thiệp y khoa dựa trên các quy tắc hợp lý. Trước đây, suy tim từng được cho là do rối loạn chức năng bơm máu của tim và quá tải thể tích (tim không thể bơm hết máu tới các cơ quan trong toàn cơ thể, lượng máu ứ lại tràn ngược vào các tĩnh mạch phổi), vậy nên một liệu pháp hiệu quả mặc dù còn thô sơ trở nên hiển nhiên: Đó là rút một vài pint1 máu từ tĩnh mạch để làm giảm áp lực tim. Tương tự, người ta cho rằng các bệnh nhân viêm phổi do phế cầu khỏi bệnh một cách thần kỳ là do phản ứng của hệ miễn dịch trong cơ thể, từ đó mở ra một phương pháp chữa trị mới: Truyền huyết thanh từ một người hoặc một con vật đang dưỡng bệnh sang một bệnh nhân mới nhiễm bệnh nhằm cung cấp các thành tố phản vệ quan trọng (sau này người ta phát hiện ra rằng đó là kháng thể kháng liên cầu khuẩn) và tăng cường phản ứng của hệ miễn dịch trong cơ thể. Thomas đã mô tả phương pháp điều trị bệnh viêm phổi do phế cầu dựa trên nguyên lý này: “Huyết thanh từ từ được truyền qua tĩnh mạch. Nếu thành công, nó sẽ phát huy hiệu quả chỉ trong vòng một đến hai tiếng. Dù mấy tiếng trước đó còn nguy kịch, nhưng bệnh nhân sẽ hạ thân nhiệt và có thể ngủ ngon trong tình trạng sức khỏe ổn định.”
Thomas viết, “Điều này đã mở ra một chân trời mới đối với những thực tập sinh như tôi. Chúng tôi có thể nhận thấy ngành nghề này đang chuyển biến vào thời khắc đó… Trong chốc lát, chúng tôi trở nên tin tưởng rằng, mọi thứ sẽ đều có lời giải đáp. Ngành y đã xuất phát và băng về phía trước.” Đó là sự ra đời của “ngành khoa học non trẻ nhất”.
…
Vào thời điểm tôi đọc Ngành khoa học non trẻ nhất (The Youngest Science), sự thay đổi mang tính khoa học trong ngành y thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Hãy tiếp tục nói về bệnh suy tim. Năm 1937, Thomas viết rằng cách duy nhất đáng tin cậy để tác động lên một quả tim đang suy yếu, ngoại trừ cách thêm oxy để cải thiện chức năng tim, là thay đổi thể tích máu bằng cách đâm kim tiêm vào tĩnh mạch và rút ra khoảng 100ml dịch nước khỏi cơ thể. Đối với một bác sĩ chuyên khoa tim hành nghề vào những năm 1990, điều đó cũng giống như là chọc áp xe bằng dụng cụ giác hơi; nó có thể hiệu quả, nhưng đây rõ ràng là một phương pháp cổ hủ. Giờ đây, bác sĩ này có thể tùy ý sử dụng không chỉ một, hai loại mà ít nhất là nửa tá loại thuốc để điều chỉnh chính xác thể tích, áp lực và nhịp tim, bao gồm thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị huyết áp, các loại thuốc giúp thận không bị tích tụ muối và nước, hay những loại thuốc giúp duy trì nhịp tim ổn định. Thêm vào đó là những máy khử rung tim được cấy vào cơ thể (thường được gọi là thiết bị kích tim) có thể phát ra xung điện để “thiết lập lại” nhịp tim nếu có gì bất thường xảy ra. Đối với những ca bệnh suy tim khó chữa nhất ‒ chẳng hạn như một chàng trai trẻ có cơ tim dần dần bị phá hủy do lắng đọng sắt một cách khó hiểu, giống kiểu Người Thiếc xứ Oz ‒ thậm chí còn có cả những quy trình cách tân hơn nữa, ví dụ như ghép tim, kèm theo là một đống các loại thuốc ức chế miễn dịch để bảo đảm rằng bộ phận được cấy ghép có thể hoạt động bình thường và không bị đào thải khỏi cơ thể mới.
…
Nhưng càng đọc Ngành khoa học non trẻ nhất, tôi càng bị cuốn vào một câu hỏi căn bản: Y học có phải là một ngành khoa học không? Nếu xét trên khía cạnh khoa học, tính tới những đột phá công nghệ ngoạn mục trong những thập niên vừa qua, thì y học hoàn toàn đủ tiêu chuẩn. Nhưng những đột phá công nghệ không định nghĩa một ngành khoa học; chúng chỉ chứng minh rằng ngành đó có tính khoa học ‒ nghĩa là, các liệu pháp điều trị được dựa trên những quy tắc khoa học về sinh lý học.
Khoa học luôn có những định luật ‒ những mệnh đề dựa trên những quan sát thực nghiệm lặp đi lặp lại nhằm mô tả một số thuộc tính phổ quát của tự nhiên. Vật lý có vô số định luật như vậy. Một số rất có ảnh hưởng và phổ biến, chẳng hạn như định luật vạn vật hấp dẫn, mô tả lực hấp dẫn giữa hai vật bất kỳ có khối lượng trong vũ trụ. Một số khác áp dụng trong những điều kiện nhất định, như định luật Ohm, chỉ đúng với một số loại mạch điện nhất định. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, một định luật luôn rút ra mối quan hệ giữa những hiện tượng được quan sát, mối quan hệ này đúng trong nhiều hoàn cảnh và điều kiện khác nhau. Định luật là những nguyên tắc mà tự nhiên phải tuân theo.
Hóa học có ít định luật hơn. Sinh học là ngành có ít định luật nhất trong ba ngành khoa học cơ bản: Chỉ có một số định luật, và số định luật phổ biến còn ít hơn. Các sinh vật sống đương nhiên phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của vật lý và hóa học, nhưng sự sống lại thường tồn tại trên những biên lề và khe kẽ của những định luật này, bẻ cong chúng tới mức gần như bị phá vỡ. Kể cả con voi cũng không thể làm trái định luật của nhiệt động lực học ‒ mặc dù vòi của nó rõ ràng là một trong những thứ kỳ lạ nhất sử dụng năng lượng để di chuyển vật chất.
Nhưng “ngành khoa học non trẻ nhất” này có định luật không? Bây giờ điều này có vẻ như là một mối bận tâm kỳ cục, nhưng tôi đã dành rất nhiều thời gian lúc học nội trú để tìm kiếm các định luật y học. Tiêu chuẩn rất đơn giản: Một “định luật” cần phải đúc rút một số nguyên tắc phổ biến trong y học thành một mệnh đề đúng. Không thể mượn các định luật từ sinh học hay hóa học; nó cần phải phù hợp với thực tiễn của ngành y. Năm 1978, trong một cuốn sách châm biếm sâu cay tên là Ngôi nhà của Chúa (The House of the God), tác giả Samuel Shem đã đưa ra “mười ba định luật y học” (ví dụ: “Luật thứ 12: Nếu một bác sĩ nội trú và một bác sĩ thực tập chuyên khoa hình ảnh đều nhìn thấy một vết thương trên phim chụp X quang, nghĩa là vết thương đó không hề tồn tại). Nhưng những định luật tôi đang tìm kiếm không phải là để đả kích văn hóa y tế hay nhấn mạnh những sai lầm của nó như Shem; tôi thực sự hứng thú với những quy luật, hoặc nguyên tắc, có thể áp dụng vào thực tiễn y học nói chung.
Tất nhiên, những định luật này có thể sẽ không giống những định luật trong vật lý hay hóa học. Nếu là một ngành khoa học, y học sẽ là một ngành khoa học uyển chuyển hơn. Y học có trọng lực, mặc dù không thể tính toán được bằng những phương trình của Newton. Sự đau khổ cũng có chu kỳ bán rã, dẫu cho không có công cụ nào được thiết kế để đo lường. Định luật y học không thể được mô tả bằng các phương trình, hằng số hay các con số. Nỗ lực tìm kiếm của tôi không phải nhằm hệ thống hóa hay giảm bớt những quy tắc thành những khái niệm phổ quát. Thay vì vậy, tôi xem chúng như những tôn chỉ mà một bác sĩ trẻ có thể tham khảo khi anh ta định hướng một ngành nghề có vẻ như hoàn toàn không thể định hướng được. Kế hoạch mới đầu không thu được gì nhiều, nhưng sau cùng tôi cũng có được một vài ý tưởng quan trọng về những nguyên lý cơ bản trong ngành y.
Khám phá 3 định luật thống trị y học, khoảng trống giữa dữ liệu khoa học, từ trải nghiệm bác sĩ nội trú đến nghiên cứu sâu sắc về bản chất uyển chuyển của y học như một ngành khoa học tự nhiên.
Y học, khoa học tự nhiên, triết lý y khoa, phi hư cấu.
Tác giả đoạt Pulitzer với "The Emperor of All Maladies" (Hoàng Đế Của Mọi Bệnh Tật: Tiểu Sử Về Ung Thư).
Chưa có sách nói MP3 trong nguồn cung cấp, chỉ có bản ebook PDF, EPUB, MOBI, AZW3.
Phù hợp bác sĩ, sinh viên y khoa, nhà nghiên cứu y học, và bất kỳ ai quan tâm đến bản chất khoa học của y học, từ thực hành lâm sàng đến triết lý sâu xa.