Tải Ebook Miễn Phí - Thư Viện Sách Điện Tử PDF, EPUB | DTV eBook

Một Chuyến Du Hành Đến Xứ Nam Hà (1792-1793)

Tác giả John Barrow
Bộ sách
Thể loại Du ký
Tình trạng Hoàn Thành
Định dạng eBook mobi pdf epub azw3
Lượt xem 1397
Từ khóa eBook mobi pdf epub azw3 full John Barrow Du Ký Biên Khảo Hà Nam Địa Lý Tham Khảo Sách Scan
Nguồn tve-4u.org

KHO EBOOK VIP <- click
Du Ký
Lịch Sử
Kinh Điển
Nam Hà
Cuốn sách được dịch từ ba chương viết về xứ Đàng Trong - Nam Hà trong tập du ký - du khảo, được John Barrow khởi thảo trong chuyến đi tới Trung Hoa, có lưu lại vùng biển Đà Nẵng xứ Nam Hà vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Ông vừa miêu tả, tường thuật những gì ông trông thấy, bên cạnh đó ông còn nghiên cứu, tổng hợp những tài liệu khác để có những khảo luận của riêng mình về kinh tế - chính trị - lịch sử - xã hội ở vùng đất này.

Tác giả: John Barrow
Thể loại: Du ký - du khảo, lịch sử, Nam Hà thế kỷ XVIII-XIX


Một Chuyến Du Hành Đến Xứ Nam Hà (1792-1793) của John Barrow là tác phẩm du ký - du khảo kinh điển, ghi chép chi tiết về xứ Đàng Trong - Nam Hà cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Cuốn sách trích từ ba chương IX, X và XI của tập du ký gốc, tập trung miêu tả địa lý, lịch sử, xã hội, đời sống dân chúng Đà Nẵng, cuộc chiến Nguyễn Ánh - Tây Sơn, và lợi ích thương mại của cảng Đà Nẵng đối với Anh. Tác giả kết hợp quan sát thực địa, nhật ký phái bộ Macartney và tư liệu từ Barissy để đưa ra những phân tích sắc sảo về chính trị, kinh tế và văn hóa Nam Hà.

Với ngòi bút trẻ trung, nhiệt huyết và óc hài hước, Barrow không chỉ tường thuật mà còn so sánh, tranh biện phóng khoáng, mang đến cái nhìn đa chiều về một xứ sở kỳ lạ đối với người phương Tây. Đây là nguồn tư liệu quý giá, giúp hiểu rõ hơn về Việt Nam thời kỳ chuyển giao giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn.

Tải ebook PDF scan bản đẹp miễn phí tại DTV eBook để khám phá hành trình lịch sử đầy hấp dẫn này!

Xem thêm các tác phẩm du ký - lịch sử kinh điển: Lược Sử Sinh Học – khoa học phổ thông kinh điển.


Cuốn sách được dịch từ ba chương viết về xứ Đàng Trong - Nam Hà trong tập du ký - du khảo, được John Barrow khởi thảo trong chuyến đi tới Trung Hoa, có lưu lại vùng biển Đà Nẵng xứ Nam Hà vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Ông vừa miêu tả, tường thuật những gì ông trông thấy, bên cạnh đó ông còn nghiên cứu, tổng hợp những tài liệu khác để có những khảo luận của riêng mình về kinh tế - chính trị - lịch sử - xã hội ở vùng đất này.

Chương một “Xứ Nam Hà” phác họa những nét khái quát về địa lý, lịch sử của cả hai xứ Nam Hà và Bắc Hà. Nhân vật Nguyễn Ánh và cuộc chiến của ông chống lại quân Tây Sơn được tác giả quan tâm đặc biệt.

Chương hai tác giả dùng để kể về kết quả cuộc khảo sát thực địa của mình về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân cảng thị Đà Nẵng, vùng đất lúc này đang dưới sự cai trị của vị vua trẻ Quang Toản.

Trong chương cuối cùng của quyển sách, Barrow đã dành trọn dung lượng để trình bày những lợi ích to lớn khi giao dịch buôn bán với xứ Nam Hà, góp phần làm tăng cường sức mạnh của Anh và cạnh tranh trực tiếp với người Pháp.

“Với ngòi bút sắc sảo của một chàng trai đương tuổi 30, đầy nhiệt huyết và ưa thích phiêu lưu, J. Barrow đã thu hút sự quan tâm của độc giả qua những quan sát, nhận xét, cảm xúc cũng như những bình luận, tranh luận độc đáo và khá hấp dẫn. Ít sa vào việc kể lể nhiều hoặc nêu những con số, J. Barrow đã chú ý đến việc phân tích, so sánh, khơi gợi ra những vấn đề lớn từ những chi tiết nhỏ, không bó buộc vào phạm vi và nội dung trình bày. Những tranh biện của ông cũng không cứng nhắc, gò bó vào ý thức hệ và lập trường chính trị, mà tỏ ra khá phóng khoáng tự do, nhiều chiều, pha trộn những luận điểm logic vững vàng với những tình cảm nhiệt thành và một óc hài hước sắc bén.” - Trích Lời giới thiệu của Dịch giả.


JOHN BARROW (1764-1848)

Là một nhà du hành, chính khách người Anh. Với tính năng động cộng với tinh thần phiêu lưu, ông đã đến nhiều nơi trên thế giới, từ phương Đông cho đến vùng nội địa Nam Phi. Ông đã viết nhiều cuốn du ký về những cuộc phiêu lưu của mình. Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) là một trong số đó. Đây là tập du ký - du khảo được ông khởi thảo trong một dịp lưu lại vùng biển Đà Nẵng xứ Nam Hà vào khoảng cuối thế kỷ XVIII.


John Barrow sinh ngày 19 tháng 6 năm 1764 ở Ulverston thuộc tỉnh Lancashire, vùng bờ biển thuộc phía Tây nước Anh, là con một tiểu trại chủ. Ngay từ khi còn trẻ, chàng trai hiếu động này đã làm những công việc khác nhau như gia sư, nhân viên trợ lý kiểm tra nhà đất, trưởng thủ thư của một xưởng đúc ở Liverpool.

Chàng thanh niên đã có thời gian dạy toán ở một trường tư; và trong lớp có một cậu học sinh là con trai của nhà quý tộc G. Staunton; Barrow được ông này mời về nhà làm gia sư kèm thêm cho con trai mình. Staunton lại là thuộc hạ của Bá tước Macartney. Năm 1792, Macartney được cử sang Trung Quốc làm đại sứ đầu tiên của Anh tại nước này. Trong phái bộ, G. Staunton là thư ký riêng của Macartney, mang theo con trai, học trò của Barrow. Được sự giới thiệu của Staunton và nhờ sự lanh lẹn và trí thông minh của mình (Barrow đã học nói được tiếng Trung Quốc trong một thời gian rất ngắn), chàng trai Barrow - lúc đó 28 tuổi - được cử đi tháp tùng phái bộ với tư cách là quản gia của ngài đại sứ Macartney. Trong chuyến du hành, phái bộ có ghé lại một số nơi, trong đó có vùng vịnh Đà Nẵng của xứ Nam Hà.

Năm 1794, Barrow từ Trung Hoa trở về, sau đó được cử làm thư ký riêng cho Macartney, và được phái tới vùng nội địa Nam Phi, với nhiệm vụ dàn xếp những cuộc xung đột giữa các bộ tộc Boers và Kaffirs. Trong thời gian này, ông kết hôn với Anna Maria Truter và trở về Anh năm 1803.

Do sự năng động và có vốn kiến thức rộng, Barrow được chính phủ Anh bổ nhiệm làm thư ký thứ hai của Bộ Hải quân Hoàng gia Anh (sau này được thăng làm thư ký thường trực). Tại đây, ông góp phần tích cực vào công việc sắp xếp, hợp nhất và cải tiến tổ chức việc điều hành trong Bộ.

Sau khi quân đội Anh đại thắng quân Pháp ở trận Waterloo (1815), chính Barrow là người đầu tiên đề xướng ra việc đày Hoàng đế Napoléon tới đảo Saint-Hélène ở phía Nam Đại Tây Dương.

Từ thời trẻ, J. Barrow đã có tinh thần phiêu lưu mạo hiểm, đi tới nhiều nơi trên thế giới. Barrow đã lập ra Hội Địa lý Hoàng gia và tổ chức nhiều cuộc du hành tới vùng Bắc Mỹ gần Bắc cực. Ở đó, người ta lấy tên ông đặt cho Mũi Barrow ở điểm cực Bắc của nước Mỹ tại Alaska, cũng như Eo Barrow ở vùng Canada. Trong gian nhà của mình, ông vẫn thường giữ một vật lưu niệm là một chiếc xương hàm cá voi ở Greenland, và treo nó ở trước cửa.

Barrow đã viết nhiều cuốn du ký, ký sự kể về những cuộc phiêu lưu và những chuyến du hành của mình. Năm 1835, ông được phong tòng nam tước. Từ 1845, ông lui về sống ẩn dật, chuyên tâm viết hồi ký về những cuộc thám hiểm vùng Bắc cực, và viết tự truyện kể về cuộc đời mình.

Barrow mất ngày 23 tháng 11 năm 1848, thọ 84 tuổi.


Cuốn A voyage to Cochinchina in the years 1792-1795 (Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1795))) xuất bản ở London năm 1806, đã được J. Barrow khởi thảo trong chuyến đi của mình tới Trung Hoa, có lưu lại vùng biển Đà Nẵng xứ Nam Hà.

Bản thảo cuốn sách trước hết dựa trên những tư liệu rút ra từ những ghi chép nhật ký của bản thân Barrow cũng như của phái bộ, trong đó có nhật ký của Macartney. Đặc biệt, theo lời Barrow, ông đã tham khảo khá kỹ bộ du ký của người sếp của mình, ông Staunton, có nhan đề An Authentic Account of an Embassy from Great Britain to the Emperor of China (Một bản tường thuật chân thực của một Đại sứ nước Anh đến Hoàng đế Trung Hoa) gồm hai quyển, xuất bản tại London năm 1797. Một nguồn tư liệu quan trọng khác để Barrow tham khảo trong khi biên soạn, vẫn theo lời tác giả, là bản thảo gồm những ghi chép của ông Barissy, một trợ thủ tình nguyện đắc lực giúp Nguyễn Ánh trong công cuộc chống lại Tây Sơn, đảm trách việc tiếp tế quân dụng. Nói như vậy để thấy rằng cuốn du ký - du khảo này có thể được coi như một nguồn tư liệu gốc đương thời; công trình được xuất bản vào năm 1806, tức là 13 năm sau cuộc du hành. Vì vậy, không kể đến niên đại ghi trong đầu đề cuốn sách, J. Barrow đã nói tới nhiều sự kiện, sử liệu trong những thời gian sau này, kể cả khi Nguyễn Ánh đã thống nhất đất nước, lên ngôi năm 1802, chẳng hạn như việc phái bộ Anh do J.W. Roberts cầm đầu đã đến Đà Nẵng năm 1804.

*

*          *

Cuốn sách của J. Barrow mà chúng ta đang có trên tay là bản dịch trích từ ba chương IX, X và XI của cuốn du ký - du khảo nói trên của tác giả nói về xứ Đàng Trong - Nam Hà vào thời điểm từ cuối thế kỷ XVIII đến XIX. Cũng tương tự đối với Đàng Ngoài - Bắc Hà, những tư liệu của người nước ngoài mang tính đương đại nói về miền Nam nước Việt trong những thế kỷ XVII-XIX khá phong phú. Không kể đến những du ký của các tác giả người Trung Hoa viết về Đàng Trong - Nam Hà như Thích Đại Sản, Thái Đình Lan hoặc những người Nhật Bản như Kondo Morishiga, một số khá nhiều các tác giả phương Tây đã để lại những cuốn du ký - du khảo nói đến hoặc có những phần nói đến xứ Đàng Trong - Nam Hà. Trước J. Barrow, trong thế kỷ XVII, người ta có thể kể đến những cuốn du ký của Borri, Vachet, Careri, Choisy, Bowyear, sang thế kỷ XVIII là Poivre, Koffler, Chapman. Sau J. Barrow, trong nửa đầu thế kỷ XIX lại có những cuốn của Roberts, White, Finlayson, Crawfurd…

Tuy nhiên, cuốn sách của J. Barrow đã có một địa vị và giá trị đặc biệt. Tác phẩm đã kết hợp một cách khá nhuần nhuyễn giữa tính chất du ký (miêu tả và tường thuật sự việc) với tính chất du khảo (nghiên cứu và biên soạn tư liệu). Cũng như vậy, nó đã kết hợp thành công giữa ba mặt lịch sử chính trị - quân sự, khảo sát dân tộc học - xã hội học và nghiên cứu kinh tế đối ngoại, được trình bày phân bố trong ba chương. Mặt khác, với ngòi bút sắc sảo của một chàng trai đương tuổi 30, đầy nhiệt huyết và ưa thích phiêu lưu, J. Barrow đã thu hút sự quan tâm của độc giả qua những quan sát, nhận xét, cảm xúc cũng như những đoạn bình luận, tranh luận độc đáo và khá hấp dẫn. Ít sa vào việc kể lể nhiều hoặc nêu những con số, J. Barrow đã chú ý đến việc phân tích, so sánh, khơi gợi ra những vấn đề lớn từ những chi tiết nhỏ, không bó buộc vào phạm vi và nội dung trình bày. Những tranh biện của ông cũng không cứng nhắc, gò bó vào ý thức hệ và lập trường chính trị, mà tỏ ra khá phóng khoáng tự do, nhiều chiều, pha trộn những luận điểm lô-gích vững vàng với những tình cảm nhiệt thành và một óc hài hước sắc bén.

Trong chương “Xứ Nam Hà”, tác giả J. Barrow đã phác họa những nét khái quát về địa lý, lịch sử của hai xứ Nam Hà và Bắc Hà, đặc biệt về cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, cũng như cá nhân con người Nguyễn Ánh. Những sự kiện về lịch sử Việt Nam nói chung được Barrow trình bày, trừ đoạn miêu tả về trò lừa gạt của Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An với Càn Long và triều đình nhà Thanh, còn thường là sơ sài và đôi khi thiếu chuẩn xác. Tuy nhiên, nó đã được bù lại bằng những chi tiết khá lý thú có liên quan đến những việc Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, giám mục Adran và số phận của hiệp ước Versailles, những cuộc thủy chiến “giặc mùa” giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, lực lượng quân đội và vũ khí, tàu thuyền của Nguyễn Ánh.

Như trên đã nói, khi viết phần này, Barrow đã dựa khá nhiều vào một bản thảo của Barissy, một nhân vật trong nhóm người Pháp tình nguyện của giám mục Adran phò tá cho Nguyễn Ánh. Mặt khác, Barrow đã viết chương này sau khi Tây Sơn sụp đổ và Gia Long lên ngôi vua. Do vậy, thái độ của tác giả phê phán Tây Sơn là kẻ tiếm ngôi, cũng như ủng hộ và ca ngợi Nguyễn Ánh - nhà vua hợp pháp - là điều dễ hiểu. Barrow đã không tiếc lời đề cao con người và sự nghiệp của Nguyễn Ánh, đến mức mô tả là: “con người phi thường, một trong số ít người sinh ra với tài năng bẩm sinh để thống trị thế giới”, sánh ngang với những đại đế lừng danh trong lịch sử như Alfred của nước Anh và Peter của nước Nga.

Gạt qua những tình cảm cá nhân và đánh giá chủ quan, J. Barrow đã có lý khi phân tích vai trò có tính chất quyết định của con người Nguyễn Ánh trong việc chiến thắng các thế lực Tây Sơn. Đó là một con người của ý chí, của hành động, từng được tôi luyện qua nhiều nỗi gian truân, một con người biết tổ chức và tập hợp quần chúng đi theo mình, thức thời và nhạy bén với thực tế đời sống trong nước và quốc tế, biết vượt qua những định kiến vị chủng hẹp hòi và óc bài ngoại. Đáng lưu ý là những trang viết của tác giả về việc Nguyễn Ánh đã xây dựng, tổ chức và cải tiến các lực lượng hải quân của mình như thế nào, trong hoàn cảnh đã có một truyền thống nổi trội về phương diện đóng tàu thuyền đi biển của người Việt, điều mà tất cả các chứng nhân người nước ngoài đương thời đều thừa nhận.

Chương tiếp sau: “Phác thảo chung về các phong tục, tính cách và tình cảm của những người dân bản xứ ở Đà Nẵng” là một bức tranh khảo sát thực địa sinh động về đời sống vật chất và tinh thần của một không gian địa phương cụ thể - cảng thị Đà Nẵng - trong một thời điểm lịch sử cụ thể, lúc đó ở dưới quyền cai trị của nhà vua trẻ Tây Sơn Quang Toản.

Chúng ta biết rằng lúc này nhà Tây Sơn đã suy, Quang Toản đóng đô ở Huế thực chất không có quyền hành gì, mọi công việc triều đình đều do Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền nắm giữ. Do vậy, những điều Barrow quan sát về bộ máy quan liêu địa phương; phẩm chất thoái hóa của một số quan chức trong sinh hoạt, giao tiếp là điều có thể hiểu được. Và tác giả cũng không cung cấp gì nhiều về mặt sử liệu trong những quan hệ đối ngoại giữa triều đình Tây Sơn với phái bộ người Anh này.

Nếu như khi miêu tả về giai tầng thống trị, J. Barrow chỉ đưa ra vài nét chấm phá, thì tác giả lại đi khá sâu vào quan sát và tìm hiểu đời sống của dân chúng. Barrow đã dẫn lại một cách thích thú câu nói của một nhà văn, rằng muốn tìm hiểu thực trạng một đất nước, người ta phải nhìn vào những túp lều tranh chứ không phải nhìn vào các lâu đài. Với nhận thức đó, chàng trai hiếu kì Barrow đã cho chúng ta biết khá nhiều chi tiết về đời sống dân thường ở một vùng duyên hải Đại Việt vào cuối thế kỷ XVIII. Các nhà dân tộc học lịch sử có thể thấy ở đây những kiến thức bổ ích về đời sống Việt truyền thống ở phần đất phía Nam, từ cách ăn uống, phục sức, nhà ở, đi lại, những nông sản, hải sản, nghề thủ công đến những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, những điều mê tín dị đoan…

Qua những đoạn miêu tả và tường thuật khá sắc sảo của Barrow, chúng ta thấy toát lên một số nét chung dễ nhận thấy, đó là sự nghèo khổ của dân chúng, từ người nông dân đến những dân chài đi biển. Bên cạnh sự nghèo khổ tồi tệ về đời sống vật chất, cái đáng sợ hơn mà tác giả cho chúng ta thấy là sự nghèo khổ tồi tệ về tinh thần của họ, biểu hiện qua thái độ luôn luôn sợ sệt, thụ động, cam chịu trước những thế lực của nhà cầm quyền, kể cả thái độ với những người nước ngoài xa lạ. Thực ra, Barrow cũng không quên nhắc nhở rằng sự cam chịu đó chỉ là hệ quả của một cuộc sống lâu dài dưới sự thống trị của cường quyền, mà chưa hẳn đã phản ánh đúng bản chất của họ. Tác giả có lý khi phân tích đến thái độ phản kháng của những người nông dân trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, hay chỉ cho chúng ta thấy một cách thú vị về tinh thần dũng cảm tuyệt vời của một chàng trai Đà Nẵng khi bất ngờ hạ đo ván một thủy thủ ngạo mạn người Anh.

Trong một số trang, tác giả đã đi hơi xa khỏi khuôn khổ một cuốn du ký để bàn nhiều hơn về chính trị - xã hội học, đó là thể chế của cái mà nhiều tác giả, mượn từ một thuật ngữ của Montesquieu và Wittfogel, gọi là “nền chuyên chế phương Đông” (Oriental despotism). Nhưng chính những đoạn này lại đã gợi ý cho chúng ta nhiều điều thú vị. Một điều nhận xét dễ thấy là ở đây, J. Barrow đã tỏ ra còn cấp tiến hơn cả những tác giả của phong trào Khai sáng đương thời, chẳng hạn như Voltaire; ông này một mặt kiên quyết lên án chế độ quân chủ chuyên chế và Giáo hội ở phương Tây, nhưng lại tỏ ra có nhiều cảm tình với thể chế và nền văn minh Trung Hoa đương thời, có thể được coi như đối trọng với những thể chế mà ông phê phán.

Vì trong chuyến đi, J. Barrow cũng đã đến Trung Quốc và có dịp tìm hiểu con người và xã hội Trung Hoa, nên tác giả, trong những biện luận của mình, thường gộp cả hai thể chế Đại Việt và Trung Hoa vào để phê phán. Theo ông, có một loạt nguyên nhân liên kết với nhau của thể chế đã kìm hãm những xã hội đó phát triển. Về kinh tế, quyền sở hữu tài sản tư nhân không được bảo vệ, các quan lại cưỡng chiếm đất đai của dân, nhà nước không khuyến khích dân chúng trong các hoạt động kỹ nghệ và thương mại. Về chính trị xã hội, luật pháp được thừa nhận là luật pháp của kẻ mạnh nhất, hàng ngũ quan lại tham nhũng và thoái hóa, sa đọa; tài năng và sự chủ động của quần chúng trong đời sống không được chú ý động viên; mọi người e sợ không dám để lộ ra tiền của và sự giàu có của mình; xã hội bám chặt vào những tập quán tín điều cổ xưa, ý thức coi thường các dân tộc khác…

Những luận điểm phê phán đó là có cơ sở và sắc bén, tuy nhiên, J. Barrow lại có phần chủ quan và thiên vị, khi từ đó, tác giả đã ca tụng quá nhiệt thành nền kinh tế tư bản - thực dân và nền dân chủ tư sản, những thứ được coi là mẫu mực của nước Anh thời đó…

Đưa Việt Nam và Trung Hoa vào chung một mô hình, nhưng J. Barrow đã tỏ ra sắc sảo tinh tế khi phân biệt những nét khác nhau của hai nền văn hóa. Mục đích chủ yếu của chuyến đi là tới Trung Hoa, nhưng cảm tình của tác giả lại có ý nghiêng về nền văn hóa Việt Nam hơn. Theo Barrow, Việt Nam (ở đây là xứ Nam Hà) đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của nền văn hóa Trung Hoa trên nhiều phương diện, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, và ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ngày càng mờ nhạt khi tiến dần xuống phía Nam, và nhất là trong giới quần chúng bình dân. Đây là một nhận xét đúng đắn và thú vị mà giới học giả Việt Nam ngày nay đã nhìn nhận khi nghiên cứu về tính lưỡng nguyên đối trọng của nền văn hóa Việt Nam truyền thống, trong đó có sự hỗn dung của hai yếu tố “truyền thống lớn” Đông Á Trung Hoa và “truyền thống nhỏ” bản địa Đông Nam Á.

Theo Barrow, tính cách người Trung Hoa lúc nào cũng làm ra vẻ trịnh trọng, nghiêm trang, đạo mạo, trong lúc người Nam Hà lại tỏ ra niềm nở, cởi mở hơn. Đặc biệt, thái độ ứng xử với phụ nữ và đặc tính của giới nữ ở hai dân tộc này đã cho ta một cái nhìn so sánh lý thú.

Barrow cho rằng những thái cực lại thường xích lại gần nhau ở một điểm chung. Cái điểm chung đó của cả người Trung Hoa và người Nam Hà là tinh thần trọng nam khinh nữ, nhưng nó lại thể hiện ở hai lối hành xử hoàn toàn trái ngược nhau. Ở Trung Hoa, người ta đánh giá thấp phụ nữ bằng cách không giao cho họ công việc lao động, bắt họ sống cấm cung, khép kín, rất hạn chế giao tiếp với người lạ là nam giới, đi lại chậm rãi, thậm chí làm cho họ trở thành khuyết tật bằng hủ tục bó chân. Ngược lại, ở Nam Hà người ta coi thường phụ nữ bằng cách bắt họ làm nhiều công việc đầu tắt mặt tối, và để họ tự do giao tiếp, đi lại tiếp xúc với nam giới, từ đó sinh ra tệ nạn phóng đãng mà Barrow đã có nhiều dịp nhận thấy.

Những quan sát và phân tích của Barrow về vấn đề này có nhiều điểm là có thật và chính xác. Cơ sở của sự khác nhau đó vẫn bắt nguồn từ hai nền tảng khác nhau của văn hóa Đông Á Trung Hoa và văn hóa bản địa Đông Nam Á. Nhưng có điều mà Barrow có thể quên là những người phụ nữ Trung Hoa mà tác giả nói đến ở đây phần lớn đều thuộc giai tầng xã hội thượng lưu, trong khi đó, những phụ nữ ở Đà Nẵng mà ông quan sát lại thuộc tầng lớp bình dân. Mặt khác, việc người phụ nữ Nam Hà đã đảm nhiệm nhiều công việc từ nội trợ, đồng áng đến chợ búa không phải là dấu hiệu về địa vị xã hội thấp kém của họ hoặc sự khinh thị giới tính; mà ngược lại nó chứng tỏ một vai trò được coi trọng và đánh giá cao hơn, một sự nhìn nhận xã hội mang tính chất tiến bộ hơn của các xã hội truyền thống Đông Nam Á so với các xã hội Đông Á.

Một điều cũng có thể nhắc đến ở đây là, với tư cách một nhân chứng, trong khi mô tả đời sống và tính cách của người dân vùng Đà Nẵng, Barrow bên cạnh việc khen ngợi những đức tính, cũng đã nói đến một số tật xấu của họ như thói hay ăn cắp vặt, tính phóng túng, buông thả và vụ lợi trong những mối quan hệ nam nữ, tệ mê tín dị đoan… Tuy nhiên, tác giả đã thân trọng rào đón, cho rằng đó chỉ là sự quan sát mang tính địa phương, ở một hải cảng có đông người nước ngoài qua lại, và có thể không phản ánh đặc tính chung của dân tộc. Và nếu ít nhiều nó có thể đại diện cho tính cách dân tộc, thì đó là hệ quả của lịch sử và lỗi lầm của thiết chế, mà không phải là một căn tính, nghĩa là nó có thể thay đổi được. Dù sao đi nữa thì những nhận xét như vậy của một người nước ngoài cách đây hai thế kỷ vẫn đáng để cho chúng ta suy ngẫm.

J. Barrow cũng đã dành trọn những chương cuối cùng của cuốn sách nói về xứ Nam Hà của mình để thuyết minh những lợi ích to lớn trong công cuộc giao dịch buôn bán với xứ này thông qua cảng biển Đà Nẵng.

Phải nói rằng tác giả đã rất yêu mến đất nước của mình, một nước Anh tư bản thực dân đang phát triển mạnh thế lực kinh tế và chính trị ra khắp mọi miền đất hứa trên thế giới, nhất là ở châu Á, mà Trung Quốc là một trọng điểm. Barrow hoàn toàn ủng hộ việc mở rộng ảnh hưởng của nước Anh tại hải ngoại, và cho rằng nếu cần thì con sư tử Anh Cát Lợi phải giương móng vuốt sắc nhọn của mình để vồ cướp lại những vùng đất béo bở mà các nước khác đã nhanh tay chiếm giữ từ trước. Nhưng trong con người ông, nhiều lúc sự trung thực đã nổi lên chống lại ý thức thực dân. Ông yêu nước Anh, nhưng ông khinh ghét những tên thực dân Anh tàn bạo đã làm hoen ố danh dự của Tổ quốc mình. Thật là có ý thức khi J. Barrow đã trích dẫn nguyên văn những trang mà một trưởng thương điếm Anh ở Batavia đã viết về cuộc tra tấn và hành quyết một người Trung Quốc bị hắn bắt về tội ăn cắp và làm cháy nhà, rồi những cảnh tượng thật dã man rùng rợn, làm người đọc phải sởn gai ốc.

Tuy nhiên, J. Barrow vẫn tập trung vào chủ đề chính của mình là nêu lên những lợi ích nhiều mặt nếu nước Anh có được một chỗ đứng chân ở xứ Nam Hà là cảng Đà Nẵng. Theo ông, Đà Nẵng là một cảng biển lý tưởng cho các mặt về cả kinh tế lẫn chính trị, quân sự. Dựa vào những điều kiện thiên nhiên thuận lợi như vịnh nước sâu, núi non che chở và Cù Lao Chàm cách đó không xa, các tàu thuyền có thể neo đậu, tránh gió bão, tiếp tế lương thực một cách thực sự thuận tiện, dễ dàng. Đà Nẵng còn là nơi tập kết, thâu gom những mặt hàng xuất nhập cảng, trao đổi những sản vật hiếm quý của Nam Hà như hương liệu, gỗ trầm hương, các tổ chim yến và loài hải sâm ở các vùng ven biển và ngoài khơi.

Tác giả phân tích một cách khá thuyết phục về vị trí chiến lược của Đà Nẵng với các tuyến giao thương ở biển Đông, nhất là khi những thuyền mành Trung Hoa đã bị các nước châu Âu xua đuổi khỏi khu vực phía Tây Ấn Độ Dương để rút về những vùng biển Đông Á và Đông Nam Á. Theo Barrow, ngoài Ấn Độ là thuộc địa chính của Anh ở châu Á, thì Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất và đáng quan tâm nhất đối với Anh và các nước phương Tây. Nhưng Đà Nẵng lại là trạm dừng chân, đồng thời là điểm khống chế những tuyến giao thương đi từ Ấn Độ tới miền Nam Trung Hoa, trong đó Anh đã đặt được một số cơ sở của mình tại Quảng Châu. Điều đó có nghĩa là nếu nhân tố Trung Quốc đã nổi lên trên bàn cờ kinh tế - chính trị Đông Á - Đông Nam Á, thì Việt Nam (ở đây là xứ Nam Hà với cảng Đà Nẵng) đã là một đường dẫn quan trọng để tiếp cận và phát huy nhân tố đó.

Barrow sốt sắng trong việc thúc giục chính phủ Anh (mà thông qua nhân tố trung gian của Công ty Đông Ấn) nên mau chóng đến Đà Nẵng để khôi phục và phát triển những quan hệ buôn bán sinh lợi mà trước đây đã từng có với xứ Nam Hà (lúc này đã trở thành nước Việt Nam thống nhất dưới vương triều Gia Long). Luận điểm đó còn dựa trên một cơ sở lịch sử rất đáng được quan tâm, đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa Anh và Pháp.

Trong nhiều trang của cuốn sách, Barrow đã nhắc nhở và nhấn mạnh đến âm mưu nhòm ngó của Pháp đối với khu vực cảng Đà Nẵng - Cù Lao Chàm, thể hiện rõ rệt nhất từ hiệp ước Versailles, mà Pháp muốn biến vùng đất này thành nhượng địa. Sự run rủi của lịch sử đã ngăn cản những ý đồ đó trở thành hiện thực, nhưng Barrow vẫn quả quyết rằng nước Pháp đế chế rất có thể sẽ tiếp tục sự nghiệp mà nước Pháp bảo hoàng chưa làm được trong việc chiếm cứ cảng Đà Nẵng, và lúc đó nước Anh sẽ là kẻ chậm chân. Lời tiên đoán sắc sảo có tầm nhìn xa trông rộng đó của J. Barrow đã trở thành một thực tế lịch sử sau nửa thế kỷ.

J. Barrow là một nhà thám hiểm và một nhà sáng tác, có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt. Văn phong của tác giả phóng khoáng, không gò bó, đôi khi theo cảm hứng đi rộng ra khỏi chủ đề bằng những đoạn miêu tả hoặc tranh luận có phần nào hơi dài dòng, nhưng cũng gây được niềm hứng thú với người đọc. Chúng tôi tôn trọng tinh thần đó khi dịch nguyên bản, và cố gắng để toát lên được văn phong có cá tính, chỉ dọn dẹp lại cho gọn những đoạn diễn đạt quá dài mà không ngắt câu. Có một số thuật ngữ chuyên môn khó dịch, một số câu tối nghĩa, mà chúng tôi cố gắng khắc phục bằng những chú thích, nhưng chắc chắn sẽ là chưa đầy đủ.

Chúng tôi rất mong đợi sự góp ý quý báu của độc giả, để bản dịch sẽ được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau.

Tháng 8 năm 2007

NGUYỄN THỪA HỶ

Tải ebook Một Chuyến Du Hành Đến Xứ Nam Hà full

Tải AZW3 Tải EPUB Tải MOBI Tải PDF Tải PDF SCAN

Định dạng ebook & phần mềm đọc gợi ý

  • PDF
    Adobe Acrobat Reader • Foxit Reader • Sumatra PDF
    Máy tính • Điện thoại • Máy tính bảng
  • EPUB
    Calibre • Apple Books • Google Play Books • Moon+ Reader
    Điện thoại Android/iOS • Máy đọc sách • Máy tính
  • MOBI / AZW3
    Kindle • Calibre • Kindle App
    Máy đọc Kindle • Ứng dụng Kindle trên điện thoại/máy tính
  • MP3 (nếu có)
    VLC Media Player • Google Play Music • Apple Music
    Mọi thiết bị hỗ trợ audio

FAQ - Câu hỏi thường gặp

Chất lượng ebook có đảm bảo không?

Có, tất cả file được xử lý chất lượng cao, hình ảnh rõ nét, font chữ dễ đọc và bố cục chuẩn. Các định dạng khác (EPUB, MOBI, AZW3) cũng được chuyển đổi cẩn thận, tương thích tốt trên mọi thiết bị.

Tải ebook có mất phí không?

Hoàn toàn miễn phí. DTV eBook là thư viện ebook lớn nhất Việt Nam, cung cấp tài liệu chất lượng mà không thu bất kỳ khoản phí nào từ người dùng.

Làm thế nào để đọc ebook trên điện thoại hoặc máy tính bảng một cách tối ưu?

- PDF / PDF SCAN: Sử dụng Adobe Acrobat Reader hoặc Foxit Reader.
- EPUB/MOBI/AZW3: Khuyến nghị Moon+ Reader (Android) hoặc Apple Books (iOS), hoặc ứng dụng Kindle.
Các ứng dụng này hỗ trợ điều chỉnh font, độ sáng, chế độ đọc ban đêm và đánh dấu trang thuận tiện.

Nếu file bị lỗi hiển thị hoặc không mở được thì phải làm sao?

Trường hợp này rất hiếm xảy ra. Nếu gặp vấn đề, vui lòng chụp màn hình lỗi và liên hệ ngay fanpage DTV eBook tại đây: https://www.facebook.com/dtvebook. Chúng tôi sẽ hỗ trợ thay thế link hoặc hướng dẫn khắc phục trong thời gian sớm nhất.

Có phiên bản sách nói (audio book) MP3 không?

Hiện tại chưa có phiên bản audio cho cuốn sách này. Chúng tôi đang liên tục cập nhật và sản xuất sách nói cho nhiều đầu sách phổ biến. Vui lòng theo dõi fanpage DTV eBook để nhận thông báo sớm nhất khi có bản MP3 mới.

Mọi người cũng tìm kiếm
  • Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà PDF
  • Du ký John Barrow Nam Hà
  • John Barrow Đà Nẵng 1792
  • Du ký Nam Hà thế kỷ 18

Xem thêm sách cùng thể loại: Du Ký | Lịch Sử



thi-tran-buon-tenh
tiki-top-sach-nen-tang-nhat-dinh-phai-doc
Giá bìa 99.000

Giá bán

74.250

Tiết kiệm
24.750 (25%)
Giá bìa 99.000

Giá bán

74.250

Tiết kiệm
24.750 (25%)