Cách Nền Kinh Tế Vận Hành |
|
| Tác giả | Roger E. A. Farmer |
| Bộ sách | |
| Thể loại | Kinh Tế - Tài Chính |
| Tình trạng | Hoàn Thành |
| Định dạng | eBook mobi pdf epub azw3 |
| Lượt xem | 2723 |
| Từ khóa | eBook mobi pdf epub azw3 full Roger E. A. Farmer Kinh Tế Học Vĩ Mô Khủng Hoảng Tài Chính Chính Sách Kinh Tế Thị Trường Tài Chính |
| Nguồn | ebook©vctvegroup |
“Cách Nền Kinh Tế Vận Hành” – Cuốn sách giải thích tại sao xảy ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và đề xuất ý tưởng mới để ngăn chặn chúng.
Thất nghiệp dai dẳng, sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và vai trò cần thiết của chính phủ trong việc ổn định tài chính.
Tác giả: Roger E. A. Farmer
Thể loại: Kinh tế học, khủng hoảng tài chính, chính sách kinh tế, thị trường tài chính
Năm xuất bản gốc: 2010 (ấn bản cập nhật 2013)
Định dạng: AZW3, EPUB, MOBI, PDF
Cuốn sách Cách nền kinh tế vận hành được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2010. Thời điểm này cũng là lúc thế giới đang phải vật lộn với cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ những năm 1930. Đã ba mươi bảy tháng trôi qua kể từ thời điểm Cục nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kì (NBER) tuyên bố cuộc khủng hoảng kinh tế lần này đã chấm dứt, nhưng vào tháng 6 năm 2009, Chính phủ Hoa Kì vẫn còn rất nhiều việc phải làm để có thể phục hồi số việc làm cho người lao động về mức trước khủng hoảng. Tôi viết cuốn sách này nhằm giúp các bạn hiểu rõ hơn tại sao những điều tồi tệ này lại xảy ra, và đưa ra một số ý tưởng nhằm ngăn chặn các cuộc khủng khoảng tài chính tương tự có thể xảy ra trong tương lai.
Rất nhiều người đã hỏi tôi rằng liệu kinh tế học có phải là một môn khoa học hay không. Câu trả lời của tôi phần lớn là có. Kinh tế học là một môn khoa học: nhưng không phải là một môn khoa học thực nghiệm. Nhiệm vụ của một nhà kinh tế có nhiều nét tương đồng với nhiệm vụ của một nhóm các nhà hóa học. Hãy tưởng tượng rằng các nhà hóa học được yêu cầu xác định một hợp chất chưa được biết đến với một số điều kiện ràng buộc bất thường. Thứ nhất, họ chỉ được tiến hành không quá ba thí nghiệm trong vòng một thế kỉ; thứ hai, khi nhân sự trong nhóm có sự thay đổi thì các thành viên mới sẽ không được phép đọc các ghi chú về quá trình nghiên cứu của những người tiền nhiệm.
Đó là cách các nghiên cứu được tiến hành trong kinh tế học. Những thí nghiệm này thường được tiến hành khi những sự kiện kinh tế mang tính bước ngoặt xảy ra: ví dụ như cuộc Đại suy thoái những năm 1930, hiện tượng suy phát những năm 1970 hay cuộc Đại khủng hoảng diễn ra vào năm 2008. Chúng đã được xem xét và đánh giá cẩn thận trong các công trình nghiên cứu vĩ đại của các nhà kinh tế học thời kì trước. Tuy nhiên, các công trình này thường không được sinh viên chuyên ngành kinh tế tìm hiểu nữa, do họ được dạy rằng nghiên cứu về lịch sử ngành kinh tế hay lịch sử của tư duy nói chung là sự sao nhãng không cần thiết khi họ cần phải chuyên tâm vào việc xây dựng các mô hình toán học được dựa trên các lí thuyết chặt chẽ.
Tất cả những điều này cần phải được thay đổi. Tôi hi vọng rằng, bằng cách giới thiệu lịch sử phát triển của các học thuyết kinh tế, cuốn sách này sẽ cổ vũ được một số bộ óc mới dành thêm thời gian đào sâu tìm hiểu về những tư tưởng đã hình thành nên chuyên ngành của chúng ta hiện nay.
Tuy vậy, cuốn sách này không dừng lại ở việc giới thiệu về lịch sử của các học thuyết kinh tế. Nó còn đưa ra một số ý tưởng mới và thúc giục cho sự ra đời của các chính sách kinh tế mới dựa trên nền tảng của các ý tưởng nói trên. Đề xuất chính của tôi là việc các kho bạc quốc gia và ngân hàng trung ương cần phải can thiệp vào thị trường tài chính để có thể giúp thị trường chứng khoán trở nên ổn định. Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi đã liên tục phát triển thêm lí thuyết của mình để có thể đưa ra các ý tưởng nói trên.
Năm 2012, tôi đã công bố một bài báo trên Tập san kinh tế (Economic Journal) (Farmer 2012a) trong đó lí giải tại sao tỉ lệ thất nghiệp có thể tồn tại dai dẳng ở mức cao. Và vào năm 2011, trong bài tham luận trình bày tại Hiệp hội tính toán kinh tế (Society for Computational Economics), tôi đã đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cho thấy khi thị trường chứng khoán sụp đổ thì tỉ lệ thất nghiệp cũng tăng theo. Bài tham luận sau đó được công bố trên một tạp chí chuyên ngành (Farmer 2012b) và đưa ra những bằng chứng thuyết phục rằng chúng ta nên dành sự quan tâm rõ rệt hơn tới những sự dao động bất thường trên thị trường tài chính.
Thất nghiệp thường tồn tại rất dai dẳng nhưng chúng ta hoàn toàn có khả năng đưa ra những dự đoán tương đối chính xác về tỉ lệ này trong tương lai thông qua hình chiếu về sự biến thiên của tỉ lệ này trong thời điểm hiện tại. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán cũng cung cấp thêm nhiều thông tin có giá trị nhằm cải thiện khả năng dự đoán về thời điểm xuất hiện và kết thúc của các cuộc khủng hoảng. Một vài nhà kinh tế cho rằng các thông tin từ thị trường chứng khoán có thể giúp chúng ta dự đoán được thời điểm xảy ra các cuộc khủng hoảng do thị trường này ẩn chứa các dấu hiệu về các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Tôi thì có một cách nhìn khác có vẻ hợp lí hơn. Thực tế, sự sụt giảm nghiêm trọng của giá trị thị trường chứng khoán thường là nguyên nhân tạo ra các cuộc khủng hoảng kinh tế. Khi các hộ dân và các doanh nghiệp mất niềm tin vào giá trị của những tài sản họ đang sở hữu thì sự mất niềm tin đó sẽ trở thành một lời tiên tri tự đúng. Chính tư tưởng này khiến tôi đã đặt tiêu đề cho bài báo 2012b của mình là: “Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 2008 là nguyên nhân dẫn tới Đại khủng hoảng”.
Thực tế, ngay sau khi Đại suy thoái năm 1930 xảy ra, đã xuất hiện rất nhiều lời kêu gọi chính phủ cần phải quản lí thị trường tài chính, và các chính trị gia đã đưa ra một loạt các biện pháp cải tổ. Nổi bật nhất trong số đó có thể kể đến Đạo luật Glass-Steagall, với mục đích phân tách rõ ràng cách hoạt động của các ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Đạo luật này được xây dựng nhằm ngăn chặn không cho các ngân hàng lặp lại các sai lầm khiến cho cuộc Đại suy thoái tại Hoa Kì trở nên trầm trọng hơn.
Trong suốt những năm 1970, các nhà kinh tế tại trường Đại học Chicago đã phát triển lên Giả thuyết Thị trường Hiệu quả (EMH), nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của một thị trường tài chính không bị chi phối tới tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn vốn. Lí thuyết EMH đã nhận được sự chấp nhận rộng rãi từ các nhà kinh tế, chính trị gia cũng như các nhà hoạch định chính sách. Chính điều này đã mở đường cho xu hướng tự do hóa thị trường tài chính toàn cầu và đặt dấu chấm hết cho tư duy cần phải quản lí thị trường tài chính của thời kì sau Đại suy thoái, trong đó bao gồm cả Đạo luật Glass-Steagall.
Trong lí thuyết EMH có hai quan điểm thường hay bị hiểu nhầm. Quan điểm thứ nhất, “không có bữa trưa nào là miễn phí” lập luận rằng nếu không sở hữu các thông tin nội bộ, một nhà đầu tư sẽ không thể kiếm được bất kì lợi nhuận nào từ việc mua và bán các loại cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phái sinh. Được hậu thuẫn bởi rất nhiều các nghiên cứu kĩ lưỡng, quan điểm này mô tả khá tốt về cách thế giới hiện tại đang vận hành.
Quan điểm thứ hai, “mức giá này là phù hợp”, khẳng định rằng thị trường tự do phân bổ nguồn vốn theo cách hiệu quả nhất, rằng các sự can thiệp của chính phủ vào thị trường chỉ có thể mang lại hệ quả rằng khi một người được nhận thêm các lợi ích thì đồng thời một người khác đã bị tước đi các lợi ích tương tự. Quan điểm này hiển nhiên là không chính xác và tôi đã lí giải việc này trong một bài báo đồng tác giả đạt giải gần đây (Farmer 2012c).
Thực tế, để thị trường tài chính có thể hoạt động được tốt, những ai đang phải chịu tác động bởi các cuộc khủng hoảng tài chính đều cần phải tham gia vào thị trường này. Tuy vậy, hệ quả của một cuộc khủng hoảng tài chính có thể kéo dài tới 20 năm hoặc hơn, và có rất nhiều người đang gánh chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này còn chưa được sinh ra vào thời điểm nó bắt đầu. Quy luật về việc con người sẽ sinh ra và chết đi sẽ ảnh hưởng thế nào tới tính hiệu quả của thị trường tài chính?
Thử tưởng tượng, ở một vũ trụ song song nào đó, bạn có thể chọn được thế giới mà mình sẽ sinh ra. Nếu muốn thử, bạn có thể tung một đồng xu để xác định nơi mình sẽ được sinh ra. Nếu là mặt ngửa, bạn sẽ được sinh ra tại một thế giới khá giống với những năm 1920, khi nền kinh tế đang bùng nổ với nhiều công ăn việc làm và thị trường chứng khoán lên xuống giống như đang chơi trò tàu lượn vậy. Và nếu là mặt sấp, bạn sẽ sinh ra trong một thế giới tương tự những năm 1930, khi tỉ lệ thất nghiệp lên tới mốc 20% và người lao động di chuyển từ bang này sang bang khác để cố tìm lấy một việc làm được trả lương. Thế giới bạn được sinh ra sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào sự may rủi.
Thay vào đó, hãy tưởng tượng bạn sẽ có thêm một lựa chọn nữa thay vì chỉ hai có lựa chọn trái ngược nói trên. Theo đó, thay vì nguy cơ sinh ra vào giữa thời cuộc Đại suy thoái đang diễn ra, bạn có thể chọn để được sinh ra vào những năm 1950. Nền kinh tế thời kì này không bùng nổ, nhưng cũng không rơi vào trạng thái khủng hoảng. Chất lượng cuộc sống tăng lên một cách ổn định và vào thời điểm bạn tốt nghiệp trung học hay đại học, cơ hội để bạn kiếm được một công việc với mức lương tốt là tương đối cao.
Lí thuyết EMH, món đồ trang sức đẹp nhất trên chiếc vương miện của trường phái kinh tế ủng hộ thị trường tự do, sẽ đưa ra cho bạn một lựa chọn đầy hoang đường. Nếu thị trường tài chính vận hành đúng theo cách mà các nhà kinh tế theo trường phái thị trường tự do tại Chicago dự đoán, bạn sẽ được sống trong một thế giới thần tiên giống như Alice, nơi mà khủng hoảng kinh tế không hề xảy ra. Sự biến động của thị trường tài chính sẽ không tồn tại, bởi một yếu tố tôi gọi là “thị trường tài chính tiền sinh” (prenatal inancial market).
Vậy “thị trường tài chính tiền sinh” vận hành như thế nào? Trong thị trường này, nếu thấy một mã chứng khoán có vẻ đang ở mức giá thấp, bạn sẽ được phép vay mượn để mua chúng. Tương tự, nếu thấy một mã chứng khoán có vẻ đang bị làm giá, bạn cũng được phép vay mượn các cổ phiếu mà bạn chưa sở hữu để đầu tư. Hành động trên được gọi là bán khống (short selling), và bạn sẽ có được lợi nhuận nếu thị trường sụt giảm do bạn chỉ phải mua lại các cổ phiếu ở mức giá thấp hơn mức giá mà bạn được mượn trước đó.
Khía cạnh bất thường duy nhất của các loại giao dịch nói trên là chúng chỉ có thể diễn ra trong môi trường giả định hoặc trong một thị trường tài chính tiền sinh không thực sự tồn tại mà thôi. Bởi vì nếu thị trường đó mà tồn tại thật, thì sẽ xảy ra trường hợp ngay khi bạn được sinh ra, bạn đã có một số tài sản nhất định thông qua các thương vụ đầu tư khi bạn còn chưa ra đời. Trong một số trường hợp, bạn sinh ra đã là triệu phú nhờ vào các thương vụ đầu tư đúng đắn trước đó. Ở trường hợp khác, ngay khi được sinh ra, bạn đã phải gánh một khoản nợ. Bạn sẽ phải trả khoản nợ này trước cả lúc bạn có thể tiết kiệm tiền để học đại học hay nghỉ hưu.
Điều này nghe thật hoang đường phải không? Nhưng nó chính xác là điều các nhà kinh tế ám chỉ khi họ lập luận rằng thị trường tài chính hoạt động rất hiệu quả. Theo đó, mong muốn tránh xa rủi ro của những đứa trẻ chưa được sinh ra sẽ là yếu tố chính khiến cho giá cổ phiếu trên thị trường này không biến động nhiều.
Vậy nếu thị trường không hoạt động thực sự hiệu quả thì chúng ta có thể làm được gì? Tôi tin rằng các chính phủ, hành động đại diện cho những công dân chưa chào đời, có thể khiến phúc lợi xã hội trở nên tốt hơn.
Vào tháng 4 năm 2013, trong phiên điều trần trước Ủy ban kho bạc thuộc Nghị viện Anh, tôi đã ủng hộ cho việc thành lập Quỹ đầu tư chính phủ Anh (sovereign wealth fund) với chức năng mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để đổi lấy nợ chính phủ. Mục đích của quỹ này là nhằm ổn định giá trị thị trường chứng khoán thông qua việc thực hiện các giao dịch nhân danh các thế hệ công dân tương lai. Các bạn có thể tìm thấy câu trả lời cho một số câu hỏi dấy lên từ việc thực thi chính sách này trong văn bản tôi đã gửi tới Nghị viện (Farmer 2013b).
Và từ khi ấn bản đầu tiên của cuốn Cách nền kinh tế vận hành được in, tôi đã có thêm trên 30 bài viết được đăng trên Financial Times, Project Syndicate, VoxEU cùng với một blog và trang tin khác. Các bài viết đó đều được dẫn nguồn đầy đủ trên website của tôi [www.rogerfarmer.com]. Rất nhiều bài viết trong số đó đã lọt vào danh sách 5 hay 10 bài viết nổi bật nhất trên diễn đàn các nhà kinh tế của Financial Times trong nhiều tháng liền, và vào thời điểm tôi đang viết những dòng này một số bài vẫn nằm trong danh sách đó. Tựu trung lại, các bài phân tích đó đều là những mô tả mạch lạc về cuộc Đại khủng hoảng khi nó bắt đầu năm 2009. Khi đó, tôi là một trong số những người đầu tiên, nếu không phải là đầu tiên, cho rằng cuộc Đại khủng hoảng là hệ quả có thể xảy ra theo sau sự kiện sụp đổ của Lehman Brothers vào tháng 9 năm 2008.
Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 2008 có thể dễ dàng dần đến sự xuất hiện của một cuộc Đại suy thoái thứ hai, không chỉ ở Hi Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ai Len, khi mà tỷ lệ thất nghiệp ở một vài nơi đã lên tới mức 27%, mà còn có thể xảy ra ở Hoa Kì, Anh và các quốc gia Bắc Âu. Tuy vậy những tai họa đó đã được ngăn chặn nhờ vào những chính sách can thiệp kịp thời của các ngân hàng trung ương và kho bạc nhà nước. Tại Hoa Kì, Anh và Nhật Bản, chúng ta có thể chứng kiến nguồn cung tiền đã được gia tăng nhanh chóng và các ngân hàng trung ương đã bắt đầu mua lại những tài sản rủi ro hơn như các chứng chỉ được bảo đảm bằng thế chấp hay trái phiếu chính phủ dài hạn. Những hành động đó đã giúp giá trị thị trường chứng khoán các quốc gia nói trên không bị giảm thêm mà chúng đã bắt đầu phục hồi trở lại, mặc dù với tốc độ chậm chạp.
Theo tôi, đối với người dân, hiểu biết về kinh tế học có vai trò quan trọng không thua kém gì so với hiểu biết về toán học hay vật lí. Và việc nắm được cách các học thuyết kinh tế tác động lên những chính sách kinh tế thế nào và tiếp đó các chính sách này đang hằng ngày ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của chúng ta ra sao càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tôi hi vọng ấn bản mới của cuốn sách Cách nền kinh tế vận hành này có thể đóng góp một phần vào công cuộc lớn lao đó. Tôi cũng mong những ý tưởng mới mà tôi cung cấp thêm sẽ được các độc giả đón nhận.
Cuối cùng, không thể kết thúc Lời nói đầu mà không gửi lời cảm ơn đến những người đã hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thành cuốn sách này. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người đã khuyến khích tôi đi xa hơn trong dự án này cũng như những người đã bình luận và góp ý cho tôi trong ấn bản đầu tiên. Xin gửi lời cảm ơn tới Scott Parris tại Nhà xuất bản Đại học Oxford vì gợi ý việc ra mắt ấn bản bìa mềm. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới rất nhiều độc giả đã email góp ý cho tôi: George Blacktord, Leigh Caldwell, Chang-Yiu Peter Chiu, Matthew Frost, John Hartwick, Kurt Groat, Yaroslav Pavlenko, Salim Rashid, Lawrence Stelter và Ben Sykes. Cảm ơn những sinh viên và đồng nghiệp của tôi, Fernando Giuliano, Jang-Ting Guo, Vadim Khramov, Ming-ming Jiang, Dmitry Plotnikov và con trai tôi Leland E. Farmer vì những phản hồi và đóng góp về chuyên môn. Hơn hết, tôi nợ một lời cảm ơn sâu sắc tới vợ tôi, C. Roxanne Farmer, người đã hỗ trợ trong việc biên tập và soát lỗi chính tả của mọi thứ tôi viết trong nhiều năm liền.
Roger E. A. Farmer
Luân Đôn, Anh Quốc, tháng 8 năm 2013
Tải ebook miễn phí bản đẹp tại DTV eBook để hiểu sâu hơn về cách nền kinh tế thực sự vận hành!
| Định dạng | Phần mềm đọc khuyến nghị | Thiết bị hỗ trợ |
|---|---|---|
| Adobe Acrobat, Foxit Reader, Sumatra PDF | Máy tính, điện thoại, máy tính bảng | |
| EPUB | Calibre, Apple Books, Google Play Books, Moon+ Reader | Điện thoại Android/iOS, máy đọc sách, máy tính |
| MOBI/AZW3 | Kindle, Calibre, Kindle App | Máy đọc Kindle, ứng dụng Kindle trên điện thoại/máy tính |
Có, tất cả ebook tại DTV eBook đều được chỉnh sửa cẩn thận, font chữ đẹp, bố cục chuẩn, phù hợp mọi thiết bị.
Hoàn toàn miễn phí! DTV eBook là thư viện ebook miễn phí lớn nhất Việt Nam.
Bạn có thể dùng ứng dụng Moon+ Reader (Android), Apple Books (iOS) hoặc tải app Kindle để đọc các định dạng MOBI/AZW3.
Rất hiếm gặp lỗi. Nếu có, vui lòng báo về fanpage DTV eBook để chúng mình sửa ngay.
Chưa có sách nói. Theo dõi fanpage DTV eBook để nhận thông báo sớm nhất nhé!
Xem thêm sách cùng thể loại: Kinh Tế Học | Khủng Hoảng Tài Chính